MỘT SỐ BIỆN PHÁP HƯỚNG DẪN HỌC SINH LÀM BÀI TẬP VỀ DẤU PHẨY TRONG LUYỆN TỪ VÀ CÂU LỚP 3

Môn Tiếng Việt cùng với các môn học khác có nhiệm vụ cung cấp cho học sinh những kỹ năng “ Nghe- nói-đọc- viết”. Tronng đó phân môn Luyện từ và câu là phân môn hết sức quan trọng. Để học sinh tiểu học nói chung và học sinh lớp 3 nói riêng có kỹ năng làm bài tập Luyện từ và câu, là niềm mong ước của mỗi thầy cô giáo và của các bậc phụ huynh. Góp phần đáp ứng niềm mong ước đó, tôi đã cố gắng tìm tòi biện pháp hươnghs dẫn học sinh làm bài tập Luyện từ và câu.

 

MỘT SỐ BIỆN PHÁP HƯỚNG DẪN HỌC SINH

LÀM BÀI TẬP VỀ DẤU PHẨY TRONG LUYỆN TỪ VÀ CÂU LỚP 3

Môn Tiếng Việt cùng với các môn học khác có nhiệm vụ cung cấp cho học sinh những kỹ năng “ Nghe- nói-đọc- viết”. Tronng đó phân môn Luyện từ và câu là phân môn hết sức quan trọng. Để học sinh tiểu học nói chung và học sinh lớp 3 nói riêng có kỹ năng làm bài tập Luyện từ và câu, là niềm mong ước của mỗi thầy cô giáo và của các bậc phụ huynh. Góp phần đáp ứng niềm mong ước đó, tôi đã cố gắng tìm tòi biện pháp hươnghs dẫn học sinh làm bài tập Luyện từ và câu. Cụ thể khi hướng dẫn học sinh tập dùng dấu phẩy trong câu, bước đầu tôi đã thu được một số kết quả tốt. Dưới đây xin trao đổi về biện pháp sử dụng các câu hỏi tìm bộ phận của kiểu câu đã học để giúp học sinh xác định vị trí cần đặt dấu phẩy ở một số bài tập Luyện từ và câu trong Sách giáo khoa Tiếng việt lớp 3.

1. Dùng câu hỏi Ai ( cái gì, con gì) ?

          Giáo viên có thể đặt câu hỏi này với số nhiều( những ai? những cái gì?) để gợi ý học sinh tìm vị trí đặt dấu phẩy ngăn cách các từ ngữ cùng chức vụ trong câu.

Ví dụ: Bài tập 2( Tiếng việt lớp 3, tuần 6 trang 51)

a. Ông em, bố em và chú em đều là thợ mỏ.

- Giáo viên hỏi: Những ai đều là thợ mỏ? ( Ông em/ Bố em/ Chú em)

- Xác định: Dấu phẩy đặt sau Ông em để ngăn cách Bố em; giữa bố em và chú em đã có từ và nên không dùng dấu phẩy.

- Kết quả: Ông em, Bố em và chú em đều là thợ mỏ.

2. Dùng các câu hỏi Là gì/ Làm gì? Thế nào?

Ví dụ:Bài tập 2( Tiếng việt lớp 3, tuần 6 trang 51)

b. Các bạn mới được kết nạp vào Đội đều là con ngoan, trò giỏi.

- Giáo viên hỏi: Các bạn mới được kết nạp vào Đội đều là gì? ( con ngoan/ trò giỏi)

- Xác định: dấu phẩy đặt sau từ con ngoan để ngăn cách với trò giỏi.

- Giáo viên giúp học sinh ghi nhớ: trong câu, nếu có hai hay nhiều từ ngữ đứng cạnh nhau cùng trả lời cho câu hỏi Ai( cái gì, con gì)? Thì ta dùng dấu phẩy để ngăn cách( tách) chúng ra cho rõ ràng.

3. Dùng các câu hỏi Khi nào? Lúc nào? Ở đâu?

Ví dụ: Bài tập3( Tiếng việt lớp 3, tuần 20 trang 17)

- Câu 4: trong những năm đầu nghĩa quân còn yếu, thường bị giặc bao vây.

- Giáo viên hỏi: nghìa quân còn yếu, thường bị giặc bao vây trong những năm nào? ( trong những năm đầu)

- Xác định: Dấu phẩy dặt sau trong những năm đầu để ngăn cách các bộ phận còn lại của câu.

- Kết quả: trong những năm đầu, nghĩa quân còn yếu, thường bị giặc vây.

4. Dùng các câu hỏi Nhờ đâu? Để làm gì? Bằng gì?

Ví dụ:Bài tập3( Tiếng việt lớp 3, tuần 29 trang 94)

- Nhờ chuẩn bị tốt về mọi mặt SEA Games 22 đã thành công rực rỡ.

- Giáo viên hỏi: SEA Games 22 đã thành công rực rỡ nhờ đâu?

- Xác định: Dấu phẩy đặt sau nhờ chuẩn bị tốt về mọi mặt để ngăn cách với các bộ phận còn lại của câu.

- Kết quả: Nhờ chuẩn bị tốt về mọi mặt SEAGames 22 đã thành công rực rỡ.

Qua quá trình nghiên cứu và vận dụng vào giảng dậy theo hướng trên, tôi đã thu được kết quả khả quan: Học sinh hào hứng học tập, mạnh dạn hơn đặt dấu phẩy đúng vị trí nhanh chóng hơn.

Trên đây là những bài học của tôi rút ra trong quá trình giảng dậy. rất mong được sự quan tâm, góp ý của đông đảo các đồng chí đồng nghiệp ở trường, phòng giáo dục để sáng kiến của tôi thêm hoàn thiện.

Xin chân thành cảm ơn. 

Tác giả bài viết: Ngô Thị Thanh Huyền (GVCN lớp 3A)

Nguồn tin: Trường Tiểu học Mỹ Thái